NHẬN BIẾT VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NEWCASTLE Ở GÀ (BỆNH GÀ RÙ)
- Gà H’Mông có mấy loại? Gà H’Mông giống giá bao nhiêu? Gà H’Mông bản địa là một giống gà thuộc loài quý hiếm và cũng chính là sản phẩm gà đen vùng Tây Bắc. Giống gà này được nuôi dưỡng đặc biệt theo cách riêng của người dân vùng bản địa khác với những loại gà thông thường. Từ đó gà H’Mông cũng mang nhiều đặc điểm về hình thể cũng như phẩm chất thịt khác biệt. Cùng Daga.me tìm hiểu về loại gà H’Mông bản địa xem chúng có điểm gì đặc biệt mà được nhiều người ưa chuộng đến thế qua bài viết dưới đây. 1. Đặc Điểm Của Gà H’Mông Bản Địa 1.1. Hình Thái Gà H’Mông bản địa sở hữu nhiều điểm nổi bật về hình thái lẫn phẩm chất thịt. Đây là dòng gà quý nên được rất nhiều người ưa chuộng. Loại gà H’Mông này không chỉ để nuôi làm thịt mà chúng còn được chăm sóc với mục đích trở thành gà cảnh. Cách nuôi gà cũng tương đối đơn giản bởi đây thuộc loại gà ăn tạp và có sức đề kháng cao. So với các loại khác, gà H’Mông đen bản địa mang đặc điểm vô cùng đặc biệt. Chúng có nhiều loại hình và sở hữu những màu lông khác nhau. Tuy nhiên, có 3 màu lông phổ biến hơn cả đó là: Màu lông đen tuyền, trắng và màu hoa mơ. Trong đó, phần lớn gà H’Mông có lông màu hoa mơ hoặc màu lông đen sậm. Gà lông trắng thường được nuôi làm cảnh chứ không để bán. Điểm nổi bật nhất mà giống gà này có đó là da ngăm đen, xương đen, thịt đen và có lục phủ ngũ tạng cũng đen. Đặc biệt hơn nữa là gà H’Mông chỉ có 4 ngón chân. 1.2. Phẩm Chất Thịt Của Gà H’Mông Gà H’Mông bản địa cũng giống với gà rừng bởi đặc tính được chăn thả tự nhiên. Gà H’Mông có trọng lượng trung bình và có tốc độ lớn nhanh hơn nhiều so với gà ri. Trong điều kiện nuôi dưỡng gà tốt thì khối lượng con mới nở có thể từ 28 tới 30 gram. Một con gà mái trưởng thành có thể nặng từ 1,5 đến 1,7 kg. Gà trống trưởng thành thì có thể trọng trong khoảng từ 1,7 đến 1,9 kg. Khả năng sản xuất thịt ở giống gà này là khoảng 10 tuần tuổi, cụ thể: thịt gà xé khoảng 75 đến 78%, thịt đùi khoảng 34 đến 35%, nó tương đương với các giống gà nội địa khác. Gà H’Mông bản địa có đặc điểm thịt thơm, ngon, ít mỡ và da của chúng rất dày. Nó khác nhiều so với giống gà công nghiệp hoặc gà ri, gà ta,… Đặc biệt với lượng axit glutamic cao chiếm khoảng 3,87% thì nó đã vượt trội hẳn so với những con gà ác. Thịt gà H’Mông có vị rất ngon nhưng lượng sắt có trong thịt lại khá thấp. >> Cẩm nang đá gà 2. Người Dân Tộc H’Mông Nuôi Gà H’Mông Bản Địa Như Thế Nào? Giống gà đen bản địa tại vùng cao là một trong số những giống gà có chất lượng cao bậc nhất ở nước ta. Chủ nhân của giống gà này chính những đồng bảo thiểu số H’Mông. Họ có những cách thức chăn nuôi rất độc đáo và đặc biệt. 2.1. Tập Quán Của Gà H’Mông Bản Địa Nuôi gà H’Mông bản địa rất dễ bởi chính bởi vì chúng có tập quán ăn uống khá đơn giản. Ban ngày, gà tự đi kiếm ăn loanh quanh trong vườn. Tối đến, nó tự khắc về chuồng và ăn chế độ thức ăn của chủ nuôi cho. Thường thì những nhà mà nuôi giống gà này sẽ đều có vườn cây ăn quả. Dùng rào lưới vây xung quanh lại và cho gà ăn dưới đất, ngủ ở trên cây. Thức ăn cho những con gà con mới sinh chủ yếu là cám bột. Sau đó, sẽ tập dần cho nó ăn thêm những loại thức ăn như: Thóc, lúa, bắp, hoặc dịch giun,… Nhiều gia đình còn cho gà ăn thêm nhiều loại hoa quả như: Đu đủ,… Ngoài ra họ còn cho gà uống thêm nước dịch giun để tăng sức đề kháng cho gà. Đặc biệt, người H’Mông rất ít khi cho gà ăn mà chủ yếu thả nuôi chúng như những loài động vật hoang dã. 2.2. Nuôi Gà Theo Cách Thức Thả Đồi Gà bản địa chủ yếu được áp dụng theo hình thức thả đồi tự do. Quanh khu vực chăn nuôi sẽ được rào lưới chắn để kiểm soát số lượng gà. Trong vườn chăn nuôi còn được trồng thêm các loại hoa quả. Như vậy, gà có nhiều không gian để có thể tập thể dục. Điều đó, giúp mùi vị thịt gà H’Mông thêm săn chắc và ngọt thịt. Phân gà thải ra thì sẽ trực tiếp được bón trực tiếp giúp cây phát triển. Gà được thả tự do vào ban ngày và chúng sẽ tự về chuồng vào ban đêm. Thực tế cho thấy, tỷ lệ sống và thích nghi của giống gà đen H’Mông bản địa là rất cao. Nó gần như là tuyệt đối và khác biệt rất lớn so với các giống gà lai cùng nuôi tại địa phương. 3. Cách Phân Biệt Giản Đơn Giữa Gà Nuôi Và Gà H’Mông Bản Địa Gà H’Mông có nhiều giống loại khác nhau như: Gà bản địa, gà thuần chủng, gà lai tạo từ nhiều giống,… Đặc biệt là loại gà được lai tạo ra từ Viện Nghiên cứu (gà nuôi). Nhìn chung, chúng đều mang những đặc điểm giống nhau khiến rất khó để phân biệt. Thực sự đây là một trở ngại lớn đối với những ai chưa từng biết đến gà H’Mông. Ngày nay có nhiều nơi đã làm giả gà H’Mông gốc dẫn đến làm mất đi sự uy tín cũng như chất lượng của thịt gà H’Mông. Chúng tôi sẽ gợi ý cho các bạn cách nhận biết và phân biệt gà H’Mông bản địa so với gà lai từ viện Nghiên cứu như thế nào nhé: Trọng lượng thịt gà: Gà H’Mông bản địa và gà thuần chủng đều có cân nặng khác biệt lớn hơn nhiều so với gà nuôi thông thường. Bởi vì gà nuôi đã được lai tạo với giống gà khác từ viện nghiên cứu dẫn tới chất lượng thịt gà không còn đạt tiêu chuẩn như ban đầu nữa. Chất lượng: Phân biệt bằng cách chúng ta dùng bàn tay bóp vào phần đùi gà. Đùi gà H’Mông bản địa thường cứng, săn chắc bởi tập tính chăn thả tự do. Còn gà nuôi thì thường thịt không được săn chắc. Loại gà này thịt bị nhão, độ ngọt và mùi vị của thịt chim hoang dã không còn nhiều nữa do đó có thể dở hơn thịt gà ta. Ngoại hình: Gà H’Mông bản địa mang điểm nổi bật là mào dâu, mào cờ và 4 ngón chân xếp rất cân đối và đều nhau. Màu lông phổ biến có 3 loại: Lông màu hoa mơ, đen và trắng. Khi nhận biết gà đen bản địa người ta thường vạch xem lưỡi gà hoặc vạch lông gần gốc cánh của chúng để xem màu xương và màu của thịt ở bên trong. Xương đen cạo đi sẽ ra lớp trắng bên trong. 4. Cách Phân Biệt Gà H’Mông Với Gà Ác Trên thị trường hiện nay, đã xuất hiện rất nhiều sự gian dối trong kinh doanh gà H’Mông và cả gà ác. Bởi thịt gà ác cũng có màu đen, xương đen nhưng hai dòng gà này có màu đen khác nhau. Một vài đặc điểm khác nhau giữa gà ác và gà H’Mông giúp mọi người dễ dàng phân biệt: Gà ác sở hữu bộ lông xù, không mượt, mào màu đỏ, trên mào có thêm lông hoặc có cả lông trên ống chân. Đặc biệt, gà ác có 5 ngón chân nên người ta thường gọi là “Ngũ trảo kê”. Ngược lại, gà H’Mông mang trên mình bộ lông mượt, chân 4 ngón và được sắp xếp cân đối. Gà H’Mông là giống gà có xương đen, thịt đen, cùng mào, mắt, lưỡi và nội tạng của gà đều là một màu đen tuyền. Chính vì thế để phân biệt được gà H’Mông thì các bạn có thể vạch xem lưỡi gà hoặc lông gà ở gần cánh để xem xương và thịt bên trong của nó. Thịt của gà ác vẫn đen nhưng có mùi vị hơi tanh do chế độ nuôi và xuất xứ khác với gà đen bản địa. Trong khi, thịt của gà H’Mông có hương vị rất thơm, nó còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh hữu hiệu. Trên đây là những kiến thức về giống gà H’Mông bản địa mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn tham khảo. Hy vọng qua đây mọi người có thể dễ dàng phân biệt gà H’Mông với các loại gà khác để tránh sự nhầm lẫn khi chọn gà mua trên thị trường. HuynhQuangDieu Tin tức liên quan Hướng Dẫn Tải Hitclub Nhanh Nhất Về Hệ Điều Hành iOS, Android Việc có thể trải nghiệm trò chơi tại Hitclub ngay trên thiết bị di động của bạn là một trải…
- Gà bị té gió là gì? Tìm hiểu nguyên nhân và cách điều trị gà bị té gió
- Những loại thức ăn giúp gà chiến sung sức – dẻo dai
- Top những loại thuốc thú y cho gà và nơi bán uy tín nhất
- NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ CHẬM LÊN GIỐNG TRÊN HEO NÁI.
Bệnh Newcastle ở gà hay có tên gọi khác là bệnh gà rù, bệnh tân thành gà,… Đây là một bệnh truyền nhiễm do virus gây nên với các triệu chứng như phân xanh, khó thở, dáng đi siêu vẹo,… Bệnh lây lan nhanh chóng, nếu không phát hiện kịp thời có thể gây chết 100% gây thiệt hại lớn cho trang trại chăn nuôi
Bạn đang xem: NHẬN BIẾT VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NEWCASTLE Ở GÀ (BỆNH GÀ RÙ)


Hình ảnh bệnh Newcastle ở gà
Nguyên nhân gây bệnh Newcastle
Nguyên nhân gây bệnh gà rù là do virus Newcastle là một loại RNA virus, thuộc nhóm Paramyxovirus gây nên. Loại virus này có thể gây bệnh ở tất cả các loại gia cầm như vịt, ngan, ngỗng,… và chúng xuất hiện ở các giống gà khác nhau, từ gà nhà, gà công nghiệp, gà chọi, gà đá.
Biểu hiện của bệnh Newcastle ở gà
Thời gian ủ bệnh Newcastle từ 3 -5 ngày, cá biệt chỉ 2 ngày nhưng cũng có trường hợp dài hơn một tuần.
Bệnh tiến triển theo 3 thể chính: thế quá cấp tính, thể cấp tính, thể mạn tính.
Thể quá cấp tính chỉ xuất hiện ở đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà chết chỉ trong vài giờ.
- Thể quá cấp tính
- Gà ủ rũ, xù lông
- Lây lan mạnh, tỷ lệ chết 100% sau vài giờ bị nhiễm bệnh
- Ho, thở gấp, phân lẫn máu, đầu nghẹo sang một bên
- Sưng phù đầu, mào tích tím tái
- Có triệu chứng thần kinh, đi đứng không vững, mổ không trúng thức ăn
- Giảm đẻ, vỏ trứng mềm
- Bệnh tích chủ yếu tập trung ở đường tiêu hóa
- Xuất huyết dọc ống tiêu hóa: thực quản, dạ dày, ruột, hạch màng treo ruột và lỗ huyệt
- Niêm mạc khí quản và mũi có dịch rỉ viêm cata, xuất huyết lấm chấm
- Teo trứng, buồng trứng sung huyết
- Não xuất huyết
- Gà sốt cao 42,5 – 43oC
- Thể cấp tính
- Dịch bùng phát đột ngột, tốc độ lây lan nhanh
- Tỷ lệ đẻ giảm, giảm ăn, chất lượng trứng giảm
- Có triệu chứng thần kinh, nghẹo đầu, đi lòng vòng, co giật, không mổ trúng thức ăn
- Gà sốt cao 42,5 – 43oC
- Tiêu chảy phân xanh, ho, tỷ lệ chết cao lên đến 100%
- Thể mạn tính
- Xuất hiện ở cuối ổ dịch với các triệu chứng do rối loạn thần kinh. Trước đây chưa có thuốc đặc trị phải sử dụng vaccine tiêm vào đàn gà những con còn sống sót cũng có biểu hiện tương tự.
- Do bị tổn thương tiểu não nên gà bị bệnh có những hành vi bất thường, gà chết do đói, mổ không trúng thức ăn
- Đối với gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm
- Bệnh kéo dài vài ngày hoặc vài tuần
Xem thêm : Gà chọi ăn gì tốt
Gà bị chảy nước mắt, ủ rũ khi bị bệnh Newcastle
Bệnh tích của gà bị mắc bệnh niu cát xơn
Khi mổ khám gà mắc bệnh Newcastle có nhiều bệnh tích điển hình.Trường hợp gà mắc bệnh ở thể quá cấp tính bệnh tích không rõ ràng, chỉ thấy những xuất huyết ở ngoại tâm mạc, niêm mạc đường hô hấp.
– Ở thể cấp tính xác chết của gà gầy; mào, yếm tím bầm.
- Xoang mũi và miệng chứa nhiều dịch nhớt đục.
- Niêm mạc miệng, hầu, họng, khí quản xuất huyết, viêm và phủ màng giả fibrin
– Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hóa:
- Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết tại đỉnh của lỗ tuyến tiêu hóa. Nhiều trường hợp bệnh nặng hiện tượng xuất huyết thành dải ở trên và dưới của dạ dày tuyến.
- Dạ dày cơ dưới lớp sừng keratin cũng bị xuất huyết.
– Niêm mạc ruột non xuất huyết, viêm cata trong giai đoạn đầu. Giai đoạn sau các hạch lympho ở ngã ba manh tràng bị viêm loét thậm chí loét hình cúc áo.
– Gan chỉ có một số điểm hoại tử màu vàng nhạt.
– Dịch hoàn, buồng trứng bị xuất huyết thành từng vệt, từng đám.
– Xuất huyết ở màng thanh dịch như bao tìm, xoang ngực, bề mặt xương ức.
– Não viêm xuất huyết.
Chẩn đoán bệnh gà rù – Newcastle
Xem thêm : Chim bồ câu và con người – Một mối quan hệ lâu dài và phức tạp
Chẩn đoán phát hiện bệnh gà rù là bước quan trọng giúp người nuôi xác định rõ bệnh để có biện pháp phòng trị hiệu quả. Chúng ta có thể chẩn đoán bằng các cách sau:
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng.
- Phản ứng huyết thanh học: Phản ứng HA, HI và phản ứng trung hòa.
- Phản ứng kháng thể huỳnh quang cho kết quả nhanh nhất.
Phòng bệnh Newcastle ở gà
Bệnh Newcastle có khả năng lây lan nhanh chóng nên việc phòng bệnh cần được người nuôi thực hiện để đảm bảo đàn gà luôn khỏe mạnh bằng các biện pháp giữ gìn vệ sinh môi trường và tiêm phòng vaccine, bổ sung thuốc bổ nhằm tăng sức đề kháng cho vật nuôi.
- Vệ sinh trang trại
- Định kỳ vệ sinh, khử trùng, sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng vôi bột hoặc các loại thuốc sát trùng chuyên dụng.
- Nên trộn chất độn chuồng cùng với men vi sinh công dụng hút ẩm, giảm khí độc thải ra từ quá trình phân hủy phân gà và ức chế mầm bệnh.
- Thường xuyên cọ rửa máng ăn, máng uống chuyên cho gà.
- Kiểm soát ra vào chặt chẽ của trang trại, ngăn gia cầm tiếp xúc với mầm bệnh.
- Nhập gà về cách ly 10 ngày trước để theo dõi
- Phòng bệnh bằng vaccine Newcastle
- Tiêm phòng vaccine cho gà đầy đủ để đàn gà được bảo hộ tốt nhất.
- Vaccine vô hoạt ít sử dụng do khả năng sản sinh miễn dịch kém.
- Hiện nay vaccine nhược độc được sử dụng phổ biến ở nước ta để phòng bệnh Newcastle cho gà vì dễ dàng sử dụng (cho uống, nhỏ mắt, nhỏ mũi), khả năng bảo hộ đàn gà tốt.
Việc phòng bệnh Newcastle cho gà bằng vaccine được thực hiện rất sớm (từ 5-10 ngày tuổi tùy thuộc từng loại vaccine) do khoảng thời gian này kháng thể mẹ truyền cho gà con bắt đầu giảm, gà con mất dần sự bảo hộ khỏi bệnh Newcastle. 10-14 ngày sau nhắc lại vaccine cho gà để nâng cao hiệu quả phòng bệnh.
- Thuốc bổ trợ cho gà
Trong quá trình nuôi gà để giảm thiểu thiệt hại của các yếu tố stress của môi trường cũng như giúp gà lớn nhanh, giảm tỷ lệ FCR ta cần bổ sung các loại thuốc bổ cho gà. Các loại thuốc bổ thường sử dụng: Vitamin C, A, D, E, K, thuốc bổ thận Lesthionin, điện giải Bcomplex,..
4.Cách trị bệnh gà rù (Newcastle)
Trước đây khi chưa có thuốc đặc trị bệnh Newcastle nên phải tiêm vaccine và đàn gà đang mắc bệnh.
Cách điều trị này hiệu quả không cao với tỷ lệ chết có thể lên đến 50 – 70% đàn gà. Những con gà không chết vì bệnh Newcastle có di chứng thần kinh mổ không trúng thức ăn và cuối cùng là chết vì đói. Những con không chết chậm lớn mặc dù tiêu tốn nhiều thức ăn và thuốc bổ.
Hiện nay đã có thuốc đặc trị bệnh Newcastle với tỷ lệ chết từ 5 – 20% đàn gà (phụ thuộc và thời gian phát hiện bệnh để can thiệp).
Khi phát hiện đàn gà mắc bệnh Newcastle, sử dụng ngay kháng thể Newcastle để điều trị. Trong vòng 24 – 48h sau khi sử dụng kháng thể Newcastle gà sẽ không còn chết bởi bệnh Newcastle. Chính vì vậy việc chẩn đoán nhanh chính xác gà mắc bệnh gì là hết sức quan trọng, khi để lâu gà sẽ chết nhiều hơn, thiệt hại lớn hơn.
Bệnh Newcastle ở gà là căn bệnh phổ biến và thường gặp ở nhiều trại nuôi. Phát hiện bệnh càng sớm càng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Do đó, để giảm thiểu thiệt hại và tỷ lệ tử vong thì các chủ trang trại cần thực hiện nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh, tiêm phòng đầy đủ, định kỳ xét nghiệm chẩn đoán bệnh trên gà để chủ động điều trị.
NHẬN BIẾT VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NEWCASTLE Ở GÀ (BỆNH GÀ RÙ)
Bệnh Newcastle ở gà hay có tên gọi khác là bệnh gà rù, bệnh tân thành gà,… Đây là một bệnh truyền nhiễm do virus gây nên với các triệu chứng như phân xanh, khó thở, dáng đi siêu vẹo,… Bệnh lây lan nhanh chóng, nếu không phát hiện kịp thời có thể gây chết 100% gây thiệt hại lớn cho trang trại chăn nuôi
Bạn đang xem: NHẬN BIẾT VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NEWCASTLE Ở GÀ (BỆNH GÀ RÙ)

Hình ảnh bệnh Newcastle ở gà
Nguyên nhân gây bệnh Newcastle
Nguyên nhân gây bệnh gà rù là do virus Newcastle là một loại RNA virus, thuộc nhóm Paramyxovirus gây nên. Loại virus này có thể gây bệnh ở tất cả các loại gia cầm như vịt, ngan, ngỗng,… và chúng xuất hiện ở các giống gà khác nhau, từ gà nhà, gà công nghiệp, gà chọi, gà đá.
Biểu hiện của bệnh Newcastle ở gà
Thời gian ủ bệnh Newcastle từ 3 -5 ngày, cá biệt chỉ 2 ngày nhưng cũng có trường hợp dài hơn một tuần.
Bệnh tiến triển theo 3 thể chính: thế quá cấp tính, thể cấp tính, thể mạn tính.
Thể quá cấp tính chỉ xuất hiện ở đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà chết chỉ trong vài giờ.
- Thể quá cấp tính
- Gà ủ rũ, xù lông
- Lây lan mạnh, tỷ lệ chết 100% sau vài giờ bị nhiễm bệnh
- Ho, thở gấp, phân lẫn máu, đầu nghẹo sang một bên
- Sưng phù đầu, mào tích tím tái
- Có triệu chứng thần kinh, đi đứng không vững, mổ không trúng thức ăn
- Giảm đẻ, vỏ trứng mềm
- Bệnh tích chủ yếu tập trung ở đường tiêu hóa
- Xuất huyết dọc ống tiêu hóa: thực quản, dạ dày, ruột, hạch màng treo ruột và lỗ huyệt
- Niêm mạc khí quản và mũi có dịch rỉ viêm cata, xuất huyết lấm chấm
- Teo trứng, buồng trứng sung huyết
- Não xuất huyết
- Gà sốt cao 42,5 – 43oC
- Thể cấp tính
- Dịch bùng phát đột ngột, tốc độ lây lan nhanh
- Tỷ lệ đẻ giảm, giảm ăn, chất lượng trứng giảm
- Có triệu chứng thần kinh, nghẹo đầu, đi lòng vòng, co giật, không mổ trúng thức ăn
- Gà sốt cao 42,5 – 43oC
- Tiêu chảy phân xanh, ho, tỷ lệ chết cao lên đến 100%
- Thể mạn tính
- Xuất hiện ở cuối ổ dịch với các triệu chứng do rối loạn thần kinh. Trước đây chưa có thuốc đặc trị phải sử dụng vaccine tiêm vào đàn gà những con còn sống sót cũng có biểu hiện tương tự.
- Do bị tổn thương tiểu não nên gà bị bệnh có những hành vi bất thường, gà chết do đói, mổ không trúng thức ăn
- Đối với gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm
- Bệnh kéo dài vài ngày hoặc vài tuần
Xem thêm : Gà chọi ăn gì tốt
Gà bị chảy nước mắt, ủ rũ khi bị bệnh Newcastle
Bệnh tích của gà bị mắc bệnh niu cát xơn
Khi mổ khám gà mắc bệnh Newcastle có nhiều bệnh tích điển hình.Trường hợp gà mắc bệnh ở thể quá cấp tính bệnh tích không rõ ràng, chỉ thấy những xuất huyết ở ngoại tâm mạc, niêm mạc đường hô hấp.
– Ở thể cấp tính xác chết của gà gầy; mào, yếm tím bầm.
- Xoang mũi và miệng chứa nhiều dịch nhớt đục.
- Niêm mạc miệng, hầu, họng, khí quản xuất huyết, viêm và phủ màng giả fibrin
– Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hóa:
- Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết tại đỉnh của lỗ tuyến tiêu hóa. Nhiều trường hợp bệnh nặng hiện tượng xuất huyết thành dải ở trên và dưới của dạ dày tuyến.
- Dạ dày cơ dưới lớp sừng keratin cũng bị xuất huyết.
– Niêm mạc ruột non xuất huyết, viêm cata trong giai đoạn đầu. Giai đoạn sau các hạch lympho ở ngã ba manh tràng bị viêm loét thậm chí loét hình cúc áo.
– Gan chỉ có một số điểm hoại tử màu vàng nhạt.
– Dịch hoàn, buồng trứng bị xuất huyết thành từng vệt, từng đám.
– Xuất huyết ở màng thanh dịch như bao tìm, xoang ngực, bề mặt xương ức.
– Não viêm xuất huyết.
Chẩn đoán bệnh gà rù – Newcastle
Xem thêm : Chim bồ câu và con người – Một mối quan hệ lâu dài và phức tạp
Chẩn đoán phát hiện bệnh gà rù là bước quan trọng giúp người nuôi xác định rõ bệnh để có biện pháp phòng trị hiệu quả. Chúng ta có thể chẩn đoán bằng các cách sau:
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng.
- Phản ứng huyết thanh học: Phản ứng HA, HI và phản ứng trung hòa.
- Phản ứng kháng thể huỳnh quang cho kết quả nhanh nhất.
Phòng bệnh Newcastle ở gà
Bệnh Newcastle có khả năng lây lan nhanh chóng nên việc phòng bệnh cần được người nuôi thực hiện để đảm bảo đàn gà luôn khỏe mạnh bằng các biện pháp giữ gìn vệ sinh môi trường và tiêm phòng vaccine, bổ sung thuốc bổ nhằm tăng sức đề kháng cho vật nuôi.
- Vệ sinh trang trại
- Định kỳ vệ sinh, khử trùng, sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng vôi bột hoặc các loại thuốc sát trùng chuyên dụng.
- Nên trộn chất độn chuồng cùng với men vi sinh công dụng hút ẩm, giảm khí độc thải ra từ quá trình phân hủy phân gà và ức chế mầm bệnh.
- Thường xuyên cọ rửa máng ăn, máng uống chuyên cho gà.
- Kiểm soát ra vào chặt chẽ của trang trại, ngăn gia cầm tiếp xúc với mầm bệnh.
- Nhập gà về cách ly 10 ngày trước để theo dõi
- Phòng bệnh bằng vaccine Newcastle
- Tiêm phòng vaccine cho gà đầy đủ để đàn gà được bảo hộ tốt nhất.
- Vaccine vô hoạt ít sử dụng do khả năng sản sinh miễn dịch kém.
- Hiện nay vaccine nhược độc được sử dụng phổ biến ở nước ta để phòng bệnh Newcastle cho gà vì dễ dàng sử dụng (cho uống, nhỏ mắt, nhỏ mũi), khả năng bảo hộ đàn gà tốt.
Việc phòng bệnh Newcastle cho gà bằng vaccine được thực hiện rất sớm (từ 5-10 ngày tuổi tùy thuộc từng loại vaccine) do khoảng thời gian này kháng thể mẹ truyền cho gà con bắt đầu giảm, gà con mất dần sự bảo hộ khỏi bệnh Newcastle. 10-14 ngày sau nhắc lại vaccine cho gà để nâng cao hiệu quả phòng bệnh.
- Thuốc bổ trợ cho gà
Trong quá trình nuôi gà để giảm thiểu thiệt hại của các yếu tố stress của môi trường cũng như giúp gà lớn nhanh, giảm tỷ lệ FCR ta cần bổ sung các loại thuốc bổ cho gà. Các loại thuốc bổ thường sử dụng: Vitamin C, A, D, E, K, thuốc bổ thận Lesthionin, điện giải Bcomplex,..
4.Cách trị bệnh gà rù (Newcastle)
Trước đây khi chưa có thuốc đặc trị bệnh Newcastle nên phải tiêm vaccine và đàn gà đang mắc bệnh.
Cách điều trị này hiệu quả không cao với tỷ lệ chết có thể lên đến 50 – 70% đàn gà. Những con gà không chết vì bệnh Newcastle có di chứng thần kinh mổ không trúng thức ăn và cuối cùng là chết vì đói. Những con không chết chậm lớn mặc dù tiêu tốn nhiều thức ăn và thuốc bổ.
Hiện nay đã có thuốc đặc trị bệnh Newcastle với tỷ lệ chết từ 5 – 20% đàn gà (phụ thuộc và thời gian phát hiện bệnh để can thiệp).
Khi phát hiện đàn gà mắc bệnh Newcastle, sử dụng ngay kháng thể Newcastle để điều trị. Trong vòng 24 – 48h sau khi sử dụng kháng thể Newcastle gà sẽ không còn chết bởi bệnh Newcastle. Chính vì vậy việc chẩn đoán nhanh chính xác gà mắc bệnh gì là hết sức quan trọng, khi để lâu gà sẽ chết nhiều hơn, thiệt hại lớn hơn.
Bệnh Newcastle ở gà là căn bệnh phổ biến và thường gặp ở nhiều trại nuôi. Phát hiện bệnh càng sớm càng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Do đó, để giảm thiểu thiệt hại và tỷ lệ tử vong thì các chủ trang trại cần thực hiện nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh, tiêm phòng đầy đủ, định kỳ xét nghiệm chẩn đoán bệnh trên gà để chủ động điều trị.
Nguồn: https://dagasv388mcw.com
Danh mục: Kiến thức


