Categories: Kiến thức

Cổng thông tin điện tử Trung tâm Khuyến nông Quảng Nam > Quản trị > Chi tiết tin

1. Bệnh Dịch Tả

1.1. Nguyên nhân

Do một loại virus có sức đề kháng cao, thuộc họ Flaviviridiae gây ra; Dịch tả lây lan mạnh trên heo ở mọi lứa tuổi và thường dễ bộc phát trong những tháng giao mùa, nhất là vào cuối mùa mưa.

1.2. Triệu chứng, bệnh tích

Khi heo nhiễm bệnh, có hiện tượng bỏ ăn, sốt, đi phân bón, mắt đỏ có ghèn, sau 1 – 2 ngày chuyển sang tiêu chảy nặng, phân thối khắm. Heo kiệt sức rất nhanh và trên da xuất hiện những điểm lấm tấm đỏ (do xuất huyết), tỷ lệ gây chết rất cao.

Bệnh tích điển hình ở nội tạng là lá lách nhồi huyết ở phần rìa và có hình răng cưa, thận cũng xuất huyết rất rõ và thành trong ruột bị loét có dạng hình cúc áo.

1.3. Phòng, trị bệnh

Do siêu vi khuẩn gây bênh nên bệnh dịch tả không thể điều trị bằng thuốc kháng sinh. Do vậy, cần tập trung vào việc phòng bệnh bằng vắc-xin và áp dụng các biện pháp chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học.

Chủng ngừa vắc-xin lần đầu lúc heo được 28 – 30 ngày tuổi. Lần chủng thứ hai sau lần đầu 2 tháng đủ để bảo hộ heo nuôi đến khi xuất chuồng.

2. Bệnh Tụ huyết trùng

2.1. Nguyên nhân

Do Vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra. Bệnh bộc phát và lây lan mạnh khi môi trường chăn nuôi gặp các yếu tố: thời tiết thay đổi đột ngột, khi vận chuyển heo, chuyển chuồng mới… đặc biệt bệnh dễ xảy ra khi heo nuôi trong điều kiện chuồng trại thiếu vệ sinh, ẩm thấp, dinh dưỡng không đầy đủ hay kế phát từ các bệnh truyền nhiễm khác. Heo trên 2 tháng tuổi dễ bị nhiễm hơn heo con.

2.2. Triệu chứng, bệnh tích

Bệnh phát rất nhanh, khởi đầu với triệu chứng bỏ ăn, sốt, mũi miệng chảy nhớt, thở khó, ho, mắt đỏ, giai đoạn đầu đi phân bón, giai đoạn cuối tiêu chảy nặng, trên da xuất huyết lấm tấm đỏ và khi chết thì toàn thân tím bầm, một số con đầu và hàm bị phù.

Bệnh tích điển hình ở nội tạng là các vết tụ huyết (nâu sẫm) ở phổi và thận, lá lách bị sưng to.

2.3. Phòng, trị bệnh

Biện pháp phòng bệnh: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dinh dưỡng đầy đủ, ổn định kết hợp với chủng ngừa vắc-xin. Lần chủng vắc-xin đầu tiên vào lúc 45 ngày tuổi đủ để bảo vệ heo nuôi đến lúc xuất chuồng.

Có nhiều loại kháng sinh có hiệu lực điều trị bệnh tụ huyết trùng. Có thể dùng một trong các loại thuốc kháng sinh như: Terramycine LA, Duranixin LA, Amoxisol LA, Septotryl, Baytril, Clamoxyl, Genta-Tylosin… và phối hợp với kháng sinh khác trong trường hợp nghi ngờ có ghép chung với các bệnh truyền nhiễm do vi trùng khác. Đồng thời, trong quá trình điều trị nên bổ sung thêm các loại vitamin, thuốc trợ lực, giảm sốt.

Tham Khảo Thêm: Gà H’Mông có mấy loại? Gà H’Mông giống giá bao nhiêu? Gà H’Mông bản địa là một giống gà thuộc loài quý hiếm và cũng chính là sản phẩm gà đen vùng Tây Bắc. Giống gà này được nuôi dưỡng đặc biệt theo cách riêng của người dân vùng bản địa khác với những loại gà thông thường. Từ đó gà H’Mông cũng mang nhiều đặc điểm về hình thể cũng như phẩm chất thịt khác biệt. Cùng Daga.me tìm hiểu về loại gà H’Mông bản địa xem chúng có điểm gì đặc biệt mà được nhiều người ưa chuộng đến thế qua bài viết dưới đây. 1. Đặc Điểm Của Gà H’Mông Bản Địa 1.1. Hình TháiGà H’Mông bản địa sở hữu nhiều điểm nổi bật về hình thái lẫn phẩm chất thịt. Đây là dòng gà quý nên được rất nhiều người ưa chuộng. Loại gà H’Mông này không chỉ để nuôi làm thịt mà chúng còn được chăm sóc với mục đích trở thành gà cảnh. Cách nuôi gà cũng tương đối đơn giản bởi đây thuộc loại gà ăn tạp và có sức đề kháng cao.So với các loại khác, gà H’Mông đen bản địa mang đặc điểm vô cùng đặc biệt. Chúng có nhiều loại hình và sở hữu những màu lông khác nhau. Tuy nhiên, có 3 màu lông phổ biến hơn cả đó là: Màu lông đen tuyền, trắng và màu hoa mơ. Trong đó, phần lớn gà H’Mông có lông màu hoa mơ hoặc màu lông đen sậm. Gà lông trắng thường được nuôi làm cảnh chứ không để bán. Điểm nổi bật nhất mà giống gà này có đó là da ngăm đen, xương đen, thịt đen và có lục phủ ngũ tạng cũng đen. Đặc biệt hơn nữa là gà H’Mông chỉ có 4 ngón chân. 1.2. Phẩm Chất Thịt Của Gà H’MôngGà H’Mông bản địa cũng giống với gà rừng bởi đặc tính được chăn thả tự nhiên. Gà H’Mông có trọng lượng trung bình và có tốc độ lớn nhanh hơn nhiều so với gà ri. Trong điều kiện nuôi dưỡng gà tốt thì khối lượng con mới nở có thể từ 28 tới 30 gram. Một con gà mái trưởng thành có thể nặng từ 1,5 đến 1,7 kg. Gà trống trưởng thành thì có thể trọng trong khoảng từ 1,7 đến 1,9 kg. Khả năng sản xuất thịt ở giống gà này là khoảng 10 tuần tuổi, cụ thể: thịt gà xé khoảng 75 đến 78%, thịt đùi khoảng 34 đến 35%, nó tương đương với các giống gà nội địa khác.Gà H’Mông bản địa có đặc điểm thịt thơm, ngon, ít mỡ và da của chúng rất dày. Nó khác nhiều so với giống gà công nghiệp hoặc gà ri, gà ta,… Đặc biệt với lượng axit glutamic cao chiếm khoảng 3,87% thì nó đã vượt trội hẳn so với những con gà ác. Thịt gà H’Mông có vị rất ngon nhưng lượng sắt có trong thịt lại khá thấp.>> Cẩm nang đá gà 2. Người Dân Tộc H’Mông Nuôi Gà H’Mông Bản Địa Như Thế Nào?Giống gà đen bản địa tại vùng cao là một trong số những giống gà có chất lượng cao bậc nhất ở nước ta. Chủ nhân của giống gà này chính những đồng bảo thiểu số H’Mông. Họ có những cách thức chăn nuôi rất độc đáo và  đặc biệt. 2.1. Tập Quán Của Gà H’Mông Bản ĐịaNuôi gà H’Mông bản địa rất dễ bởi chính bởi vì chúng có tập quán ăn uống khá đơn giản. Ban ngày, gà tự đi kiếm ăn loanh quanh trong vườn. Tối đến, nó tự khắc về chuồng và ăn chế độ thức ăn của chủ nuôi cho. Thường thì những nhà mà nuôi giống gà này sẽ đều có vườn cây ăn quả. Dùng rào lưới vây xung quanh lại và cho gà ăn dưới đất, ngủ ở trên cây.Thức ăn cho những con gà con mới sinh chủ yếu là cám bột. Sau đó, sẽ tập dần cho nó ăn thêm những loại thức ăn như: Thóc, lúa, bắp, hoặc dịch giun,… Nhiều gia đình còn cho gà ăn thêm nhiều loại hoa quả như: Đu đủ,… Ngoài ra họ còn cho gà uống thêm nước dịch giun để tăng sức đề kháng cho gà. Đặc biệt, người H’Mông rất ít khi cho gà ăn mà chủ yếu thả nuôi chúng như những loài động vật hoang dã. 2.2. Nuôi Gà Theo Cách Thức Thả ĐồiGà bản địa chủ yếu được áp dụng theo hình thức thả đồi tự do. Quanh khu vực chăn nuôi sẽ được rào lưới chắn để kiểm soát số lượng gà. Trong vườn chăn nuôi còn được trồng thêm các loại hoa quả. Như vậy, gà có nhiều không gian để có thể tập thể dục. Điều đó, giúp mùi vị thịt gà H’Mông thêm săn chắc và ngọt thịt.Phân gà thải ra thì sẽ trực tiếp được bón trực tiếp giúp cây phát triển. Gà được thả tự do vào ban ngày và chúng sẽ tự về chuồng vào ban đêm. Thực tế cho thấy, tỷ lệ sống và thích nghi của giống gà đen H’Mông bản địa là rất cao. Nó gần như là tuyệt đối và khác biệt rất lớn so với các giống gà lai cùng nuôi tại địa phương. 3. Cách Phân Biệt Giản Đơn Giữa Gà Nuôi Và Gà H’Mông Bản ĐịaGà H’Mông có nhiều giống loại khác nhau như: Gà bản địa, gà thuần chủng, gà lai tạo từ nhiều giống,… Đặc biệt là loại gà được lai tạo ra từ Viện Nghiên cứu (gà nuôi). Nhìn chung, chúng đều mang những đặc điểm giống nhau khiến rất khó để phân biệt. Thực sự đây là một trở ngại lớn đối với những ai chưa từng biết đến gà H’Mông. Ngày nay có nhiều nơi đã làm giả gà H’Mông gốc dẫn đến làm mất đi sự uy tín cũng như chất lượng của thịt gà H’Mông. Chúng tôi sẽ gợi ý cho các bạn cách nhận biết và phân biệt gà H’Mông bản địa so với gà lai từ viện Nghiên cứu như thế nào nhé: Trọng lượng thịt gà: Gà H’Mông bản địa và gà thuần chủng đều có cân nặng khác biệt lớn hơn nhiều so với gà nuôi thông thường. Bởi vì gà nuôi đã được lai tạo với giống gà khác từ viện nghiên cứu dẫn tới chất lượng thịt gà không còn đạt tiêu chuẩn như ban đầu nữa. Chất lượng: Phân biệt bằng cách chúng ta dùng bàn tay bóp vào phần đùi gà. Đùi gà H’Mông bản địa thường cứng, săn chắc bởi tập tính chăn thả tự do. Còn gà nuôi thì thường thịt không được săn chắc. Loại gà này thịt bị nhão, độ ngọt và mùi vị của thịt chim hoang dã không còn nhiều nữa do đó có thể dở hơn thịt gà ta. Ngoại hình: Gà H’Mông bản địa mang điểm nổi bật là mào dâu, mào cờ và 4 ngón chân xếp rất cân đối và đều nhau. Màu lông phổ biến có 3 loại: Lông màu hoa mơ, đen và trắng. Khi nhận biết gà đen bản địa người ta thường vạch xem lưỡi gà hoặc vạch lông gần gốc cánh của chúng để xem màu xương và màu của thịt ở bên trong. Xương đen cạo đi sẽ ra lớp trắng bên trong. 4. Cách Phân Biệt Gà H’Mông Với Gà ÁcTrên thị trường hiện nay, đã xuất hiện rất nhiều sự gian dối trong kinh doanh gà H’Mông và cả gà ác. Bởi thịt gà ác cũng có màu đen, xương đen nhưng hai dòng gà này có màu đen khác nhau. Một vài đặc điểm khác nhau giữa gà ác và gà H’Mông giúp mọi người dễ dàng phân biệt: Gà ác sở hữu bộ lông xù, không mượt, mào màu đỏ, trên mào có thêm lông hoặc có cả lông trên ống chân. Đặc biệt, gà ác có 5 ngón chân nên người ta thường gọi là “Ngũ trảo kê”. Ngược lại, gà H’Mông mang trên mình bộ lông mượt, chân 4 ngón và được sắp xếp cân đối. Gà H’Mông là giống gà có xương đen, thịt đen, cùng mào, mắt, lưỡi và nội tạng của gà đều là một màu đen tuyền. Chính vì thế để phân biệt được gà H’Mông thì các bạn có thể vạch xem lưỡi gà hoặc lông gà ở gần cánh để xem xương và thịt bên trong của nó. Thịt của gà ác vẫn đen nhưng có mùi vị hơi tanh do chế độ nuôi và xuất xứ khác với gà đen bản địa. Trong khi, thịt của gà H’Mông có hương vị rất thơm, nó còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh hữu hiệu.Trên đây là những kiến thức về giống gà H’Mông bản địa mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn tham khảo. Hy vọng qua đây mọi người có thể dễ dàng phân biệt gà H’Mông với các loại gà khác để tránh sự nhầm lẫn khi chọn gà mua trên thị trường. HuynhQuangDieu Tin tức liên quan Hướng Dẫn Tải Hitclub Nhanh Nhất Về Hệ Điều Hành iOS, Android Việc có thể trải nghiệm trò chơi tại Hitclub ngay trên thiết bị di động của bạn là một trải...

3. Bệnh Phó Thương Hàn

3.1. Nguyên nhân

Do vi khuẩn Salmonella gây ra; thường xảy ra ở heo con cai sữa đến 4 tháng tuổi.

3,2. Triệu chứng, bệnh tích

Khi mới nhiễm bệnh, heo có triệu chứng bỏ ăn, xù lông, phân bón như phân dê và có màng nhày bao bọc phân. Sau vài ngày chuyển sang tiêu chảy, đặc trưng của bệnh này là biểu hiện lúc sốt cao, lúc thấp hoặc không sốt và kéo dài trong nhiều ngày.

Bệnh tích điển hình ở nội tạng là thành trong ruột non có những chỗ bị loét, trên có phủ bựa vàng trắng, lách bị dai, sưng, túi mật cũng bị sưng.

3.3. Phòng, trị bệnh

Vắc-xin phòng bệnh phó thương hàn được chủng lần đầu lúc heo được 5 tuần tuổi đủ để bảo hộ cho heo nuôi đến lúc xuất chuồng.

Có nhiều loại thuốc kháng sinh có hiệu lực đối với vi trùng gây bệnh, nhưng trong quá trình điều trị thường gặp khó khăn là việc dùng thuốc phải kéo dài cùng lúc phải có chế độ chăm sóc và dinh dưỡng đặc biệt là cho heo ăn thức ăn nấu chín, loãng Có thể dùng các loại kháng sinh như: Spira-colistin, Baytril Max, Amoxysol LA, Duranixin LA, Enro-Gentacol, Clamoxyl, Maxflo LA… kết hợp với thuốc kháng viêm, giảm sốt (các loại thuốc không thuộc nhóm corticoid) và các loại vitamin, chất điện giải để cân bằng điện giải trong máu khi heo bị tiêu chảy nặng.

4. Bệnh Lở mồm long móng (FMD)

4.1. Nguyên nhân

Do virus Aphthovirus gây ra (7 chủng loại: O, A, C, Asia 1, SAT 1, SAT 2, SAT 3)

4.2. Triệu chứng, bệnh tích

Thời gian ủ bệnh từ 5 đến 7 ngày. Lúc đầu heo có hiện tượng bỏ ăn, sốt cao trên 40oC, run rẩy, mụn nước mọc ở nướu răng, lưỡi, vành miệng, phần tiếp giáp giữa mong và chân, bầu vú heo nái. Sau vài ngày các mụn này vỡ ra tạo thành vết loét, dễ nhiễm trùng sinh lở, mủ làm heo không thể ăn uống, đi lại khó khăn, đau và khi lở loét nặng có thể gây sút cả móng. Do các vết loét trong miệng nên heo chảy nước dãi rất nhiều, lưỡi cứng và thè ra ngoài.

Bệnh tích điển hình là miệng có vết lở loét ở lợi, chân răng, hầu, thực quản, lưỡi. Phổi có thể bị viêm, tim mềm, có vết xám hay các chấm nhạt, lách sưng đen, móng bị long ra hoặc sút hẳn.

4.3. Phòng bệnh

Do siêu vi khuẩn gây ra bệnh nên không có thuốc đặc trị đặc hiệu. Có thể dùng kháng sinh chữa các mụn loét ở miêng, móng và vú hoặc dùng chanh hay khế chà xát vào các vết loét này. Tuy nhiên, cần lưu ý các biện pháp này chỉ có tác dụng ngăn ngừa nhiễm trùng kế phát, không diệt được siêu vi khuẩn gây bệnh. Do vậy, biện pháp duy nhất và hiệu quả nhất la tập trung vào công tác phòng bệnh; trong đó, ngoài áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học thì yêu cầu bắc buộc là phải tiêm phòng vắc-xin.

Tiêm vắc-xin lần đầu cho heo vào lúc 2 tháng tuổi. Lần chủng thứ 2 cách lần đầu 30 ngày, còn các lần kế tiếp cách khoảng 5 – 6 tháng. Bên cạnh yêu cầu tiêm vắc-xin cần kết hợp thực hiện các biện pháp: chỉ mua heo giống đã qua kiểm dịch, chăn nuôi cách ly heo mới nhập về để kiểm tra, định kỳ xử lý sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi… Do tính chất nguy hiểm của bệnh lở mồm long móng nên khi phát hiện heo bị bệnh tuyệt đối không được giết mổ hoặc bán chạy mà phải báo ngay cho cơ quan thú y gần nhất để được hướng dẫn cách xử lý.

5. Bệnh Viêm phổi do Mycoplasma

5.1. Nguyên nhân

Bệnh do Mycoplasma gây ra (M. suispneumonia và M. hyopneumonia) và tấn công chủ yếu trên đường hô hấp. Heo con từ 3 – 4 tháng tuổi dễ nhiễm và mắc bệnh vào các thời điểm trời lạnh và ấm.

5.2. Triệu chứng, bệnh tích

Biểu hiện chung của heo bệnh là thường tách đàn nằm ở góc chuồng, kém ăn, chậm lớn, da nhợt nhạt, thân nhiệt có thể không tăng hoặc chỉ tăng một ít (sốt nhẹ), heo hay hắt hơi từng hồi, chảy nước mũi, ho liên tiếp và kéo dài; sau đó chuyển sang trạng thái thở khó, thở nhanh và có lúc há hốc mồm để thở. Ở thể viêm phổi mãn tính, heo ho khan từng tiếng hay từng chuỗi dài, đặc biệt lúc sáng sớm hay buổi tối và sau cử ăn. Bệnh thường kéo dài dai dẳng, giảm tăng trọng, không điều trị dứt thí heo còi cọc và chết.

Bệnh tích đặc trưng là phổi bị viêm kiểu gan hóa, trên mặt phổi xuất hiện các dạng sợi làm phổi dính vào lồng ngực. Màng phổi viêm nặng, khí quản, phế quản viêm và có dịch nhầy, hạch lâm ba phổi sưng to, tụ máu.

5.3. Phòng, trị bệnh

Đối với bệnh viêm phổi do Mycoplasma thì phòng bệnh vẫn là biện pháp hàng đầu; cụ thể là các yêu cầu: chăm sóc tốt, giữ ấm, vệ sinh kết hợp với sử dụng vắc-xin (vắc-xin Respisure 10 cc lúc 21 ngày tuổi và tái chủng sau mỗi 6 tháng). Đông thời, lưu ý heo mới mua về cần nuôi riêng theo dõi ít nhất 21 ngày, nếu không có bệnh mới cho nhập đàn.

Khi phát hiện heo bệnh, có thể dùng các loại thuốc như Draxxin, Terramycin LA, Duranixin LA Excede, Tylan200… để điều trị nhưng chú ý cần nuôi cách ly để tránh lây nhiễm cho heo khoẻ.

6. Hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp (PRRS)

6.1. Nguyên nhân

Do virus thuộc giống Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales gây ra. Có 3 chủng: Chủng 1 gồm những virus thuộc dòng Châu Âu (độc lực thấp), chủng 2 gồm những virus thuộc dòng Bắc Mỹ (độc lực cao), chủng 3 gồm những virus thuộc dòng Trung Quốc (độc lực cao). PRRS lây lan mạnh và gây nhiều thiệt hại. Bệnh có thể lây truyền qua nhiều đường: lây trong cùng bầy, cùng chuồng, heo mẹ lây cho heo con, heo nọc cho heo nái, lây qua vật dụng chăn nuôi, thức ăn, nước uống và cả qua không khí.

6.2. Triệu chứng, bệnh tích

Biểu hiện của bệnh rất thay đổi theo chủng vius gây bệnh cụ thể, khả năng miễn dịch của heo và cách chăn nuôi ở mỗi nơi. Triệu chứng của heo ban đầu là bỏ ăn, lừ đừ, sốt, khó thở, xung huyết dưới da; đặc biệt ở phần tai xuất hiện sắc tố xanh không bền (nên còn được gọi là bệnh tai xanh). Thời gian nung bệnh có thể từ 3 – 7 ngày. Heo nái mắc bệnh thường có hiện tượng rối loạn sinh sản như chậm lên giống, phối giống không đậu thai, dễ sẩy thai vào giai đoạn cuối, heo sơ sinh yếu, trọng lượng heo con không đồng đều, dị dạng hoặc thai khô. Ngoài ra, nái có thể có các triệu chứng thần kinh như rối loạn vận động, quay vòng, té ngã. Heo nọc có biểu hiện lờ đờ, tái xanh ở tai, giảm khả năng sinh dục và chất lượng tinh. Heo con theo mẹ bị chết nhiều trước và sau cai sữa, viêm kết mạc mắt, phù thủng mí mắt, tiêu chảy kéo dài, thở khó, ít hoặc không ho, lông xù, khô và có thể bị chảy máu ở rốn. Heo cai sữa và heo thịt thường có biểu hiện rối loạn hô hấp, giảm tăng trọng.

6.3. Phòng bệnh

Do siêu vi gây bệnh nên không có thuốc điều trị. Vì vậy, chủ yếu là áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Riêng vắc-xin thì cần chọn chủng loại và lịch trình tiêm theo hướng dẫn của nơi sản xuất vắc-xin và cơ quan thú y địa phương để phù hợp với chủng siêu vi gây bệnh.

7. Bệnh sưng phù đầu (Phù thủng do E. Coli)

7.1. Nguyên nhân

Dovi khuẩn E.coli sống ký sinh trong đường tiêu hóa. Bệnh thường xảy ra trên heo cai sữa hoặc sau cai sữa 1 – 3 tuần. Bệnh thường xảy ra ở nơi chăn nuôi dơ bẩn, ẩm thấp, thức ăn nước uống nhiễm bẩn hoặc lúc thay đổi thức ăn đột ngột, lúc chuyển chuồng. Heo có thể bị tiêu chảy nếu chỉ nhiễm các chủng E.Coli sinh độc tố gây hại ở đường tiêu hoá; còn heo có triệu chứng phù thủng, sưng mắt, co giật nếu bị nhiễm các chủng E.Coli gây hại đường máu.

7.2. Triệu chứng, bệnh tích

Khi mắc bệnh, heo có các triệu chứng kém ăn, kém linh hoạt. Ở thể quá cấp heo chết đột ngột trước khi có triệu chứng phù. Ở thể bình thường, bệnh diễn ra trong vòng 2 – 3 ngày với các biểu hiện: sốt nhẹ hoặc không sốt, kém ăn, khó nuốt, phù thủng ở mí mắt, vùng cổ họng, khản giọng, tiếng kêu thay đổi, mất thăng bằng, đi xiêu vẹo, co giật kiểu bơi chèo, khó thở, liệt trước khi chết.

Bệnh tích điển hình là phù thủng dưới da vùng trán, mí mắt, quanh tim, niêm mạc dạ dày, thanh quản, túi mật, hạch bạch huyết, xuất huyết thành điểm ở thận, não và xoang bụng tiết nhiều dịch.

7.3. Phòng, trị bệnh

Heo bệnh cần nuôi cách ly nhưng vẫn dùng thuốc điều trị cho toàn đàn bằng các loại kháng sinh như Ampidexalone, Neomycine, Colistin, Baytril, Genorfcoli … kèm theo thuốc trợ sức, tăng cường sức chống chịu. Bệnh do sự phát triển của vi khuẩn trong đường ruột nên trong qua trình điều trị chỉ nên cấp nước, ngừng cho lợn ăn các loại tinh bột. Điều này tránh làm vi khuẩn phát triển mạnh hơn. Phòng bệnh bằng chế độ chăn nuôi thật vệ sinh, định kỳ xử lý sát trùng chuồng trại, dụng cụ và áp dụng cách pha trộn định kỳ thuốc kháng sinh trong thức ăn, nước uống cho heo con trước và sau cai sữa./.

Nguyễn Quý Hảo

Share
Published by
Nguyễn Quý Hảo

Recent Posts

Dịch tiêu chảy cấp ở heo (Porcine Epidemic Diarrhea) viết tắt là P.E.D là một…

3 năm ago

Hướng dẫn chữa bệnh gà uống nhiều nước bằng phương pháp giản đơn

Dấu hiệu gà uống nhiều nước không hề bình thường chút nào. Rất có thể…

3 năm ago

Gà tre thịt giá rẻ – Đặc điểm, trọng lượng gà tre

Gà tre là một giống gà bản địa đã từng khá phổ biến tại khu…

3 năm ago

Ấp trứng gà ta gà tre đúng quy trình

Ấp trứng gà là một kĩ thuật chăn nuôi rất cơ bản, phổ biến và…

3 năm ago

Con Vẹt Cảnh Ăn gì? Cách nuôi? Mua ở đâu? Giá rẻ nhất bao nhiêu

Chim vẹt, loài chim không còn quá xa lạ đối với những người nuôi chim…

3 năm ago

Kiểm tra trọng lượng lợn heo giúp xuất chuồng nhanh nhất

Đối với trang trại chăn nuôi lợn heo mỗi khi xuất chuồng thường với số…

3 năm ago